Ăn hải sản theo kiểu ngư dân

Men theo bờ hồ Linh Đàm, Hà Nội, nhà hàng hải sản Nhất Sơn có một khu “chợ” bán đủ loài hải sản nổi tiếng của vùng biển Hải Phòng, Quảng Ninh cùng với những món ăn “ dân chài khoái khẩu”.

Bạn đang đọc: Ăn hải sản theo kiểu ngư dân

Phong cách ăn đồ biển tại đây sẽ theo đúng kiểu “dân chài” với hương vị ngọt đậm của hải sản tươi mới, nóng hổi. Thông qua cách chế biến dân dã với những gia vị độc đáo của người miền biển, thực khách được thưởng thức vị biển bằng tất cả các giác quan như thấy, chạm, ngửi mùi hương nguyên bản của món ăn với một chút mặn mòi của biển, nếm món ăn vừa chín tới mềm và “giòn” tê nơi đầu lưỡi…

Ăn hải sản theo kiểu ngư dân

Để cung cấp hải sản tươi ngon và an toàn cho khách hàng, ông chủ của nhà hàng hải sản Nhất Sơn đã mở rộng mô hình chợ ẩm thực ngay trong nhà hàng của mình. Với mô hình này, nhà hàng đã trưng bày và chế biến hầu hết các loại hải sản, đặc sản biển từ Hải Phòng, Hạ Long, Cát Bà…

Ăn hải sản theo kiểu ngư dân

Ngoài một số loại hải sản tươi sống đang bơi, nhà hàng này còn có rất nhiều loại hải sản sơ chế mới được đ.ánh bắt và đưa thẳng về “chợ”. Ví dụ cua gạch loại to khoảng 400.000 đồng một kg. Các loài khác như tu hài chỉ 280.000 đồng một kg, sò biển 190.000 đồng một kg, hầu sữa Vân Đồn 120.000 đồng một kg…

Ngay trong ngày khai trương “chợ”, nhà hàng đã thu hút hàng trăm lượt khách. Nhiều vị khách chọn mua cua, ghẹ, một phần đưa tới đầu bếp chế biến và ăn thử luôn, một phần nhờ đóng gói để mang về.

Thông tin liên hệ: Nhà hàng Hải sản Nhất Sơn – Hotline: 04 3647 2966

Địa chỉ: Bằng B, Khu sinh thái ven hồ Linh Đàm, phường Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội.

Theo VNE

Săn cà ra trên sông Kinh Thầy

Cà ra hay cua sông, cua da như cách gọi ở một số địa phương khác, sống khá nhiều trên sông Kinh Thầy, nhất là đoạn sông từ cầu Bình xuôi xuống giáp ranh với Hải Phòng.

Sau nhiều lần thuyết phục, cuối cùng tôi cũng được anh Nguyễn Văn Dịnh, thôn Thắng Yên, xã Thượng Vũ (Kim Thành, Hải Dương) đồng ý cho theo một chuyến săn cà ra trên sông Kinh Thầy.

Những người dân chài cho biết, cà ra hay cua sông, cua da như cách gọi ở một số địa phương khác, sống khá nhiều trên sông Kinh Thầy, nhất là đoạn sông từ cầu Bình xuôi xuống giáp ranh với Hải Phòng.

Tìm hiểu thêm: Cách làm canh bầu nấu tôm dễ làm, vụng mấy cũng làm được

Ăn hải sản theo kiểu ngư dân

Hai vợ chồng anh Minh, chị Huyền gửi con lại cho bà nội trông, cắm chốt trên khúc sông qua xã An Bình (Nam Sách, Hải Dương) gần 2 tuần để bắt cà ra

Buổi sáng cuối tháng 3 trời mưa nhỏ, sương mù ken đặc kèm theo cái lạnh như cắt từ dưới sông hắt lên. Chúng tôi bắt tay chuẩn bị đồ nghề gồm bẫy sập, rọ bát quái và mồi nhử. Bẫy sập trông như quả chuông nhỏ được đan từ tre và dây kiện hàng với khung bằng thép hoặc cật tre. Bẫy có đường kính miệng khoảng 15cm, dài 20cm thu nhỏ dần lại ở đáy. Ở miệng bẫy có cửa sập buộc vào với một sợi dây cao su. Mồi là cá rô phi hoặc cá mè được chặt nhỏ bằng ngón tay út và móc vào một cái móc sắt nối với một cái cần gắn vào cửa bẫy. Chỉ cần cà ra ăn mồi, cần sẽ bung ra và cửa bẫy sẽ sập xuống, dây cao su có tác dụng ghì chặt cửa bẫy lại, không cho con mồi thoát ra ngoài. Mỗi chiếc bẫy lại được buộc 2 viên đá nhỏ có tác dụng giúp bẫy chìm nhanh và giữ thăng bằng khi nằm dưới đáy sông.

Anh Dịnh cho biết, hiện nay cánh thợ săn cà ra ít khi dùng tre để đan bẫy, vì tre ngâm dưới nước khoảng 1 năm sẽ bị mục, t.uổi thọ của bẫy không cao. Dân chài đan bằng dây kiện hàng, mặc dù đắt gấp đôi so với bẫy cũ nhưng t.uổi thọ có thể kéo dài từ 4 – 5 năm. Ngoài bẫy sập, dân chài còn sử dụng một dụng cụ khác để bắt cà ra là rọ bát quái. Nhưng hiện nay còn rất ít người sử dụng vì hiệu quả không cao.

Cà ra chính vụ phải vào tháng 10, tháng 11, lúc đó cà ra trưởng thành nặng trung bình từ 150 – 200 gram. Đó cũng là thời điểm cà ra to nhất và ngon nhất. Cà ra sinh sản vào khoảng tháng 11, khi đó chúng sẽ xuôi dòng ra vùng nước lợ để đẻ trứng. Trứng sau khi đẻ chìm xuống đáy sông, cà ra con theo thủy triều ngược lên các tuyến sông phía trên để sinh sống.

Sau khi chuẩn bị đầy đủ đồ nghề, chiếc thuyền sắt gắn máy công suất 8 mã lực ngược dòng Kinh Thầy, nhằm hướng cầu Bình xuất phát. Theo những người dân chài, dọc sông Kinh Thầy đâu cũng có cà ra, nhưng nhiều nhất vẫn là các nhánh sông thuộc địa phận huyện Kinh Môn, do sông nhiều thức ăn tự nhiên, đáy sông có nhiều hốc đá là nơi sinh sống và trú ngụ lý tưởng của cà ra và các loại thủy sản khác. Tuy nhiên, cánh thợ lại ít khi săn ở đây bởi lòng sông hẹp, đáy nhiều đá và tàu thuyền qua lại nhiều khiến việc đ.ánh bắt gặp khó khăn. Dân chài thường tập trung săn ở đoạn sông từ xã Nhân Huệ (Chí Linh) đến sát bến phà Tuần Mây. Thỉnh thoảng họ cũng ngược lên tận cầu Phả Lại hoặc xuôi sông Kinh Môn xuống tận Hải Phòng.

Khi còn cách cầu Bình khoảng 1 cây số, anh Dịnh tắt máy và bắt đầu thả bẫy. Anh chọn địa điểm này vì lòng sông ở đây rộng, nước chảy không mạnh, rất thuận lợi cho việc thả bẫy.

Thông thường, mỗi lần thả hoặc thu bẫy, thuyền phải có 2 người. Nếu không có người giữ tay chèo, thuyền dễ bị các vùng nước xoáy hoặc sóng của tầu hàng đ.ánh bạt.

Hôm nay, tôi được giao nhiệm vụ giữ chèo để thuyền trôi xuôi theo dòng nước. Vừa thả bẫy, anh Dịnh vừa giảng giải: “Thả bẫy phải thật khéo để khi chìm xuống đáy sông, bẫy phải nằm cân bằng, không bị lật úp hoặc xoắn vào nhau, như thế cà ra sẽ không tìm được đường vào và khi kéo bẫy sẽ rất nặng, có thể đứt dây nối bất kỳ lúc nào. Chọn địa điểm thả bẫy cũng hết sức quan trọng. Người có nghề chỉ cần nhìn dòng nước là có thể biết nơi đó có cà ra hay không. Đồng thời, đáy sông nơi đó phải bằng phẳng, không có hố hoặc vực sâu, tránh việc bẫy bị mắc lại dưới đáy sông, khi thu bẫy gặp khó khăn”.

Sau khi thả xong 2 dây bẫy, chúng tôi xuôi dòng về bến phà Tuần Mây để thu bẫy mà anh Dịnh đã thả từ mấy hôm trước.

Việc thu bẫy cũng không hề đơn giản như tôi nghĩ. Bẫy bị ngâm dưới nước lâu, khi kéo lên rất nặng. Vừa thu bẫy, anh Dịnh vừa kiểm tra và thay mồi. Công việc này mất rất nhiều thời gian và công sức. Thỉnh thoảng, bẫy bị mắc kẹt dưới đáy sông. Để gỡ bẫy, anh sử dụng một cái móc 4 cạnh bằng sắt được nối vào một sợi dây dài.

Dưới sự điều khiển một cách khéo léo của đôi bàn tay cộng với kinh nghiệm của dân sông nước, chỉ vài phút là chiếc bẫy đã được giải thoát một cách dễ dàng. Công việc của chúng tôi thường xuyên bị ngắt quãng do phải tránh tàu hàng đi qua. Sóng của những con tàu lớn khiến chiếc thuyền nhỏ bé của chúng tôi cứ dềnh lên, dập xuống. Anh Dịnh cho biết, thuyền của dân chài va vào tầu hàng như cơm bữa. Nhiều người bị tầu đ.âm, thuyền lật, bao nhiêu cà ra săn được lại rơi hết xuống sông.

Ăn hải sản theo kiểu ngư dân

>>>>>Xem thêm: Canh cá khoai ăn hoài không ngán

Thành quả sau 1 ngày mệt nhọc chỉ là 1,5 kg cà ra loại nhỏ

Càng ngày việc săn cà ra ngày càng khó khăn. Sau gần 2 giờ đồng hồ, 400 chiếc bẫy được kéo lên, nhưng chỉ thu được khoảng 1,5 kg cà ra.

Mùa này, cà ra vừa ít lại vừa nhỏ, phải 30 – 35 con mới được 1 kg. Mỗi ngày, với 2 dây bẫy anh Dịnh cũng chỉ thu được từ 2 – 2,5 kg, bán buôn cho thương lái được 70 nghìn đồng/kg. Sau khi trừ t.iền xăng và các chi phí khác, số t.iền thu được chẳng đáng là bao.

Người săn cà ra thì ngày càng đông, chỉ riêng thôn Thắng Yên đã có hàng chục gia đình ăn, ngủ trên sông. Khúc sông từ cầu Bình xuống Phà Mây rồi xuôi xuống Hải Phòng bị họ quần thảo suốt ngày.

Anh Dịnh cho biết: “Cách đây vài năm, mỗi lần thu bẫy cũng được vài kg. Dạo này, không hiểu vì lý do gì mà cả một dây bẫy cũng chỉ bắt được khoảng 1 kg là cùng. Kể cả vào vụ chính tháng 9, tháng 10 lượng cà ra bắt được cũng không nhiều. Trên những đoạn sông gần, cà ra ngày càng hiếm, nhiều lần chúng tôi phải xuống tận Hải Phòng hoặc sang Bắc Ninh, Bắc Giang để bắt. Tuy nhiên, không phải ai cũng đi xa như thế được, bởi thời gian thường kéo dài cả tháng trời và chi phí cũng khá lớn”.

Cà ra là món ăn ngon, nên thương lái đặt mua ngày càng nhiều. Dân chài đổ xô đi bắt kể cả khi chúng vẫn còn rất nhỏ. Nước sông ngày càng ô nhiễm cũng khiến lượng cà ra ít dần đi. Bên cạnh đó, nhiều dân chài đã dùng mìn hoặc kích điện để bắt cá, tôm khiến các loài thuỷ sản, trong đó có cà ra bị t.iêu d.iệt. Cà ra không kịp lớn, không kịp sinh sản trước nhu cầu ngày càng cao của con người. Còn người dân chài chỉ vì miếng cơm manh áo đã góp phần khiến nguồn cà ra ngày càng cạn kiệt…

Theo Bưu Điện Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *